PDA

View Full Version : các anh cho em hỏi về khối lượng thể tích bêtông


herolama
08-01-2008, 04:09 PM
hiện nay theo TCVN mới nhất thì bêtông có khối lượng thể tích bao nhiêu được xếp vào loại bêtông nặng? em làm bêtông cường độ cao đo được khối lượng thể tích 2700 kg/m3 thì xếp vào loại nảo?
Các bác trả lời giúp dùm em gâp. Chân thành cảm ơn!

henycuong
08-01-2008, 04:47 PM
Tên tiêu chuẩn: Bê tông nặng - Phương pháp xác định cường độ nén bằng súng bật nẩy (Heavy weight concrete - Method of determination of compressive strength by rebound hammer)
Số tiêu chuẩn: TCXDVN 162 : 2004
Cơ quan ban hành: Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 25/2004/QĐ-BXD ngày 26 tháng 10 năm 2004.
Ngôn ngữ: Việt Nam. Số trang: 17.
Địa chỉ tài liệu: TCĐM.001771. Thư viện KHCN - Bộ Xây dựng.

Phạm vi áp dụng:
Tiêu chuẩn này dùng để xác định cường độ nén và độ đồng nhất của bê tông nặng trên cấu kiện và kết cấu công trình bằng súng bật nảy loại N.
Súng bật nảy là phương pháp thí nghiệm gián tiếp: cường độ nén của bê tông được xác định thông qua việc xác định độ cứng (trị bật nẩy) của lớp bê tông bề mặt của kết cấu.
Lựa chọn phương pháp thí nghiệm theo tiêu chuẩn TCXD 239:2000.
Không áp dụng tiêu chuẩn này trong các trường hợp sau:
- Giám định pháp lý kiểm tra chất lượng công trình.
- Đối với bê tông có mác dưới 100 và trên 500.
- Đối với bê tông dùng các loại cốt liệu lớn có kích thước trên 40mm (Dmax > 40mm).
- Đối với vùng bê tông bị nứt, rỗ hoặc có các khuyết tật.
- Đối với bê tông bị phân tầng hoặc là hỗn hợp của nhiều loại bê tông khác nhau.
- Đối với bê tông bị hoá chất ăn mòn và bê tông bị hoả hoạn.
- Đối với kết cấu khối lớn như đường băng sân bay, trụ cầu, móng đập.
- Không được dùng tiêu chuẩn này thay thế yêu cầu đúc mẫu và thử mẫu nén.

henycuong
08-01-2008, 04:58 PM
Công nghệ bê tông nhẹ
Có một ngôi nhà khang trang, đẹp đẽ, là tổ ấm đi về sớm hôm, đó là ước mơ từ ngàn đời của bao người. Theo thời gian, khát vọng ấy vẫn không đổi thay nhưng kiểu dáng, chất liệu xây dựng lại thay đổi cho phù hợp với điều kiện sống của con người. Trước yêu cầu của xã hội về nhà ở và các công trình phải mang tính bền vững với giá thành thấp, các nhà khoa học Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và ứng dụng thành công công nghệ sản xuất bê tông nhẹ phục vụ cho việc xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Sau gần 10 năm nghiên cứu, thử nghiệm, Tiến sĩ Nguyễn Văn Chánh cùng các đồng nghiệp Bộ môn Vật liệu xây dựng - Khoa kỹ thuật xây dựng, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã thành công trong ứng dụng công nghệ sản xuất bê tông nhẹ bọt xốp. Thành phần chính của bê tông nhẹ bọt xốp vẫn là xi măng nhưng điểm khác biệt là có thêm phụ gia tạo bọt và cốt sợi hoá học Polyme, khi trộn chung các bọt khí được dàn đều do vậy cấu trúc bê tông nhẹ chỉ có trọng lượng từ 230 đến 900kg/m3 nhẹ hơn rất nhiều so với bê tông thường.
Sau nhiều lần thử nghiệm loại bê tông nhẹ bọt xốp nói trên, các nhà khoa học Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vào ứng dụng xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương trên nền đất yếu thay thế các loại vật liệu xây dựng đắt tiền khác, đặc biệt khi xây dựng lắp ghép nhà ở bằng bê tông nhẹ đem lại giá trị kinh tế cao vì giá thành rẻ, phù hợp với nhu cầu của người lao động có thu nhập thấp. Theo số liệu thống kê của ngành Xây dựng, giá thành nền móng chiếm gần 20% trị giá căn nhà. Nếu xây dựng trên nền đất yếu thì tỷ lệ này chiếm tới 40% nhưng thay bằng bê tông nhẹ, giá thành nền móng chỉ còn 5 đến 7% mà độ bền không kém bê tông cốt thép. Điều đặc biệt khác trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ đó là có thể thay thế nguyên liệu chính của bê tông xốp nhẹ là cốt sợi hoá học bằng 1 loại nguyên liệu có sẵn đó là xơ dừa. Không chỉ áp dụng trong xây dựng công trình và nhà ở thông thường, công nghệ bê tông nhẹ còn được ứng dụng vào lĩnh vực trang trí, những nhà khoa học trẻ của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã kết hợp cùng Công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh Cửu sản xuất bê tông giả đá. Từ các nguyên liệu thông thường như: Cát, xi măng nhưng sự kết hợp giữa nhà sản xuất và nhà khoa học đã cho ra đời sản phẩm giả đá mang tính mỹ thuật cao, được điểm tô thêm nhiều màu sắc, sức sống mới. “Rẻ, nhanh, bền đẹp” là những đặc tính nổi trội của sản phẩm bê tông nhẹ xốp nhưng điều đáng buồn là kết quả của những năm tháng miệt mài nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của các nhà khoa học lại không được các doanh nghiệp sản xuất đón nhận.
Hiệu quả của sản phẩm bê tông nhẹ đã được thực tế chứng minh nhưng để trở thành sản phẩm quen thuộc còn là khoảng cách xa vời. Con đường đưa công nghệ sản xuất bê tông nhẹ cùng các vật liệu xây dựng nhà ở nói riêng, công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực khác nói chung vào đời sống còn lắm gian nan vì thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 nhà: Khoa học, sản xuất và kinh doanh. Không phải các nhà đầu tư sản xuất thiếu hiểu biết, trước những công nghệ mới mà do e ngại, người tiêu dùng thường có tâm lý chuộng ngoại, quen sử dụng những sản phẩm có tên tuổi lâu đời, khó chấp nhận những sản phẩm nhãn hiệu “made in Việt Nam”. Chính sự bảo toàn vốn đầu tư trong sản xuất đã dẫn đến tình trạng ít ỏi của các công trình khoa học khi ứng dụng vào cuộc sống. Bên cạnh đó nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học còn eo hẹp, không ít nhà khoa học phải tự bỏ tiền túi cho những thí nghiệm mà điều đó đòi hỏi phải có nguồn thu nhập ổn định, dồi dào mới tránh được tình trạng “nửa chừng gãy gánh”.
Làm thế nào để công nghệ mới phát huy cao nhất hiệu quả đồng vốn, mang lại lợi ích lâu dài là câu hỏi còn bỏ ngỏ. Việc hạn chế nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, thay thế bằng nguyên liệu thiên nhiên có sẵn trong nước là xu thế chung của các quốc gia, ngoài việc tránh được sự phụ thuộc trong khâu sản xuất còn tiến tới bảo vệ môi trường sống của con người. Tuy nhiên muốn tìm được lời giải cho bài toán đó là điều không đơn giản. Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước cho khâu nghiên cứu, ứng dụng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà sản xuất, kinh doanh và quan trọng nhất là sự chọn lựa của khách hàng. Bởi chính họ là người quyết định cho sự tồn tại của sản phẩm. Hy vọng 1 ngày không xa, những công trình mới ở thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam sẽ hiện diện sản phẩm bê tông nhẹ xốp, để tâm huyết của các nhà khoa học trẻ, góp phần tạo nên ngôi nhà ước mơ của bao người.

(Nguồn tin: T/C Tiêu chuẩn Đo lường & chất lượng Việt Nam, số 5/2005)

henycuong
08-01-2008, 05:01 PM
TẤM 3D - CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG MỚI
14/11/2005

Tấm lợp 3D - vật liệu xây dựng thế hệ mới

Hiện nay, công nghệ xây dựng nhà sử dụng tấm panel-3D tường, sàn, trần, cầu thang...bắt đầu được người xây dựng quan tâm vì chất lượng vượt trội, khả năng tiết kiệm thời gian thi công nhanh hơn so với thi công bằng các vật liệu truyền thống. Tuy nhiên, đây là một loại vật liệu xây dựng mới, tính ứng dụng cao nhưng hiện vẫn chưa được sử dụng phổ biến. WEDO giới thiệu dưới đây một số tài liệu nghiên cứu cũng như các bài viết giới thiệu sản phẩm đã được đăng tải rộng rãi để các bạn có thể hiểu hơn về công nghệ vật liệu xây dựng mới này.






NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ VÀ SẢN XUẤT
THỬ NGHIỆM NHÀ 3D - NHATICO

KS. LÊ ĐÌNH ĐĂNG
TS. NGUYỄN VĂN CHÁNH
TS. VŨ XUÂN HOÀ
Xí nghiệp cấu kiện lắp sẵn

Đề tài đã đưược nghiệm thu, đánh giá tại Hội đồng Khoa học thành phố Hồ Chí Minh năm 2003.

Đoạt giải Nhì Giải thưởng Sáng tạo kỹ thuật TP Hồ Chí Minh năm 2003, Giải Ba Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) lĩnh vực Công nghệ vật liệu mới năm 2003.

1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TRÌNH:

Đề tài đã đặt ra được những giải pháp khả thi, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho ngưười có thu nhập thấp ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác.

Điểm mới:

Tấm bê tông nhẹ đưược sản xuất trên nền vật liệu mới là vữa bê tông nhẹ có gia cường cốt sợi (Sợi xơ dừa hoặc sợi tổng hợp) để tạo ra những tấm tường lắp ghép được với nhau, lần đầu tiên đưược áp dụng vào sản xuất ở Việt Nam gồm hai loại:

- Tấm tường TBK (bê tông nhẹ cốt sợi tơ dừa)

- Tấm bê tông 3D chịu lực đúc sẵn (bê tông nhẹ cốt sợi tổng hợp).

Điểm sáng tạo:

- Công trình do các Nhà khoa học của Đại học Bách khoa nghiên cứu thành công, lần đầu tiên được triển khai.

- Chi phí đầu tư thấp, toàn bộ thiết bị hoàn toàn được sản xuất trong nước.

- Tổ chức sản xuất công nghiệp tại nhà máy, cũng có thể sản xuất ngay tại công trường xây dựng.

- Qui trình sản xuất sử dụng 100% nguyên vật liệu trong nước.

- Ứng dụng hiệu quả vào thực tế, phù hợp với điều kiện xã hội, được thị trường chấp nhận.

Ý nghĩa về mặt công nghệ:

- Các tấm bê tông nhẹ tạo được sự linh hoạt trong thiết kế, đa dạng về mẫu mã nhà ở.

- Lắp dựng nhanh, không cần nhiều thợ tay nghề cao, không sự dụng thiết bị chuyên dùng.

- Với đặc tính cách âm, cách nhiệt của loại vật liệu mới làm cho nhà ở thông thoáng là ưu thế hơn hẳn so với xây dựng cổ điển.

Đặc biệt phát huy ưu thế nhẹ khi thi công nhà ở trên nền đất yếu, không chân.

2. HIỆU QUẢ TRÊN CÁC MẶT KINH TẾ - XÃ HỘI:

* Về kinh tế

Khả năng phát triển phổ biến do công nghệ đơn giản với chi phí đầu tư thấp.

- Giá nhà ở rẻ hơn từ 8% đến 15% do tiết kiệm được chi phí làm móng và nhân công.

- Tận thu do sử dụng sợi xơ dừa ngắn không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, tăng thu nhập cho người nông dân trồng dừa.

Các công trình đã thực hiện dòng nhà BK - NHATICO sử dụng tấm tường TBK

Năm 2002

TT
TÊN CÔNG TRÌNH
CHỦ ĐẦU

ĐỊA ĐIỂM
QUY MÔ (M2)
GIÁ TRỊ (TRIỆU ĐỒNG)
HIỆU QUẢ (TRIỆU ĐỒNG)

DÒNG NHÀ BK-NHATICO
PHƯƠNG PHÁP CỔ ĐIỂN

1 Nhà mẫu BK-NHATICO XN NHATICO P. Long Bình, Q.9, TP. HCM 02 căn = 64 35 42 7
2 Nhà ở công nhân thu nhập thấp CNT Cty Lâm Viên & Cty CPDV Địa ốc Sài Gòn Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức 10 căn = 3.536 m2 2.860 2.965 105
3 Nhà lưu trú trên nền đất ướt Bà Trưương Thị Hải P. Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức 10 căn = 300 m2 74 80 6
4 Nhà lưu trú công nhân
+ Trệt: 360 m2

+ Gác: 144 m2
BQL CN XN NHATICO P. Long Bình, Q.9, TPHCM 24 căn = 504 m2 357 370,8 13,8
Cộng 131,8

Năm 2003

TT
TÊN CÔNG TRÌNH
CHỦ ĐẦU TƯ
ĐỊA ĐIỂM
QUY MÔ (M2)
GIÁ TRỊ (TRIỆU ĐỒNG)
HIỆU QUẢ (TRIỆU ĐỒNG)

DÒNG NHÀ BK-NHATICO
PHƯƠNG PHÁP CỔ ĐIỂN

1 Nhà Chiến sĩ cảnh sát Tổng cục cảnh sát Bộ Công an Quận 9 01 căn = 80 m2 64 73 9
2 Nhà tạm cư (gác ván ép) Cty CPDV & XD Nhà Kim Sơn P13, B. Thạnh, TPHCM 12 căn = 576 m2 412 460 48
3 Nhà cho thuê (gác ván ép) Bà Nguyễn Thị Hương P. Phú Thuận, Q.7, TPHCM 10 căn = 210 m2 151 157,5 6,5
4 Nhà cho Công nhân thuê (Modul mẫu) Cty TNHH Vạn Phúc H. Nhơn Trạch, Tỉnh Đồng Nai 03 căn = 54 m2 33 40,5 7,5
5 Nhà ở trên đất ngập nước Hộ dân P. Tam Đa, Quận 9 02 căn 50 55 5
6 Nhà tình nghĩa Diện chính sách Bến Tre 01 căn
7 Nhà tạm cư Thủ Thiêm BQL Đầu tư XD khu Đô thị mới Thủ Thiêm P. An Lợi Đông, Quận 2, TP. HCM 113 căn = 5.088 m2 3.821 4.177 356
Cộng 432

Thực hiện 06 tháng đầu năm 2004

a - Dòng nhà BK-NHATICO sử dụng tấm tường TBK.

TT
TÊN CÔNG TRÌNH
CHỦ ĐẦU TƯ
ĐỊA ĐIỂM
QUY MÔ (M2)
GIÁ TRỊ (TRIỆU ĐỒNG)
HIỆU QUẢ (TRIỆU ĐỒNG)

DÒNG NHÀ 3D-NHATICO KẾT HỢP
PHƯƯƠNG PHÁP CỔ ĐIỂN

1 Nhà Công vụ Gia Nghĩa Sở Xây dựng Tỉnh Đaklak Thị trấn Đa Nghĩa, Tỉnh ĐakNông 160 phòng = 5.760 m2 4.985 5.200 215

b - Kết hợp dòng nhà 3D-NHATICO với tấm tường TBK.

Đây là mô hình kết hợp dòng nhà 3D và tấm tường TBK thi công trên nền đất cực yếu như sau:

- Tầng trệt: Sử dụng tấm tường 3D chịu lực đúc sẵn tại nhà máy đưược chở đến hiện trường liên kết theo phương pháp nối ướt; Sàn sử dụng tấm Panel 3D lưới thép đổ tại chỗ để tạo liên kết toàn khối.

- Tầng lầu: Vách sử dụng tấm tường TBK

TT
TÊN CÔNG TRÌNH
CHỦ ĐẦU TƯ
ĐỊA ĐIỂM
QUY MÔ (M2)
GIÁ TRỊ (TRIỆU ĐỒNG)
HIỆU QUẢ (TRIỆU ĐỒNG)

DÒNG NHÀ BK-NHATICO
PH. PHÁP CỔ ĐIỂN

1
Nhà ở cho sinh viên
Trường CĐ BC Công nghệ & QTDN
P. Tân Phú, Q.7, TP. HCM
20 phòng = 514,50 m2
546
617
71


* Về xã hội

- Là một mô hình điển hình khai thông tiềm năng chất xám khoa học kỹ thuật từ đơn vị nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao.

- Giải quyết nhu cầu nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân thuê ở các khu công nghiệp, khu chế xuất.

- Góp phần bảo vệ môi trường vì có thể thay thế hoàn toàn gạch đất nung trong xây dựng nhà ở.

Tình hình triển khai và triển vọng:

Tấm bê tông nhẹ sử dụng vữa bê tông nhẹ cốt sợi tổng hợp và cốt sợi xơ dừa để làm tấm tường lắp dựng 02 dòng nhà: Nhà 3D-NHATICO và Nhà BK-NHATICO. Đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm nhà 3D-NHATICO" mang tính thiết thực, giá thành rẻ góp phần phục vụ nhu cầu về nhà ở cho người có thu nhập vừa và thấp, đặc biệt là nhà ở trên vùng đất yếu (nền đất không ổn định) đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người thu nhập thấp và nhà ở công nhân các khu công nghiệp, khu chế xuất, các dự án nhà ở Tái Định Cư, dự án nhà ở Tạm Cư...

Hiện nay, xí nghiệp NHATICO đang tiếp tục triển khai thực hiện thi công các công trình sau:

TT
TÊN CÔNG TRÌNH
CHỦ ĐẦU TƯ
ĐỊA ĐIỂM
QUY MÔ (M2)
GIÁ TRỊ (TRIỆU ĐỒNG)

01
Nhà ở cho Bộ đội Biên phòng, Tỉnh đội và Công An Tỉnh ĐakNông
Bộ đội Biên phòng, Tỉnh đội và Công An Tỉnh ĐakNông
Thị trấn Gia Nghĩa, Tỉnh ĐakNông
05 căn = 2.880 m2
2.000

02
Văn phòng tạm cho UBND Phường Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức
UBND Phường Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức
Phường Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức
84 m2
62

03
Khu nhà Nghỉ dưưỡng xanh cho Công nhân
Cty TNHH DV TM Ba Lá Xanh
Phan Thiết
970,43 m2
1.064,6




Và một số công trình khác đang xúc tiến như:

a - Khu nhà ở tạm cư - Phưường Phước Long B - Quận 9 do Công ty Quản lý và Phát triển Đô thị Quận 9 làm chủ đầu tư với quy mô: 84 căn, trị giá gần 3 tỉ đồng.

b - Khu nhà ở cho công nhân thuê tại xã Tân Nhựt - Bình Chánh do Công ty Kinh doanh Phát triển nhà quận Tân Bình làm chủ đầu tư với tổng diện tích: 13.217 m2 XD, trị giá trên 10 tỉ đồng.

c - Hiện xí nghiệp đang triển khai thẩm định, khảo sát thị trường để có phương án kinh doanh phù hợp nhằm triển khai dòng nhà này tại thị trường phía Bắc, đặc biệt là nhà ở tái định cư cho thuỷ điện Sơn La của Tỉnh Sơn La, Lai Châu. Đây là thị trường đầy triển vọng, có khả năng triển khai dự án nhà ở với quy mô lớn, ổn định và lâu dài phù hợp để phát triển dòng vật liệu mới này trong thi công nhà ở dân dụng.

3. KIẾN NGHỊ:

Qua hơn 2 năm triển khai đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện Công nghệ và Sản xuất thử nghiệm Nhà 3D-NHATICO" ứng dụng vào thực tế thi công nhà ở, đặc biệt nhà ở cho người thu nhập thấp, có những khó khăn sau:

- Xí nghiệp NHATICO là một doanh nghiệp nhà nước, vừa được phục hồi và củng cố lại, nguồn tài chính còn nhiều khó khăn, điều kiện quảng bá thương hiệu, chi phí quảng cáo sản phẩm, tiếp thị, khai thác thị trường... không thể thực hiện được vì không có nguồn kinh phí.

- Hầu hết vốn đầu tưư, vốn kinh doanh đều phải vay vốn Ngân hàng thưương mại, trong điều kiện triển khai thi công dòng công nghệ vật liệu mới này phần lớn tập trung vào các dự án, chương trình nhà ở sử dụng vốn ngân sách, thường thanh toán rất chậm nên Xí nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, đồng thời giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh (do phải trả lãi ngân hàng).

- Do đây là loại công nghệ vật liệu mới nên cần có thời gian để khách hàng kiểm chứng chất lượng sản phẩm (hiện nay khách hàng có thói quen xây dựng nhà theo phương pháp cổ điển sử dụng gạch đất nung để xây dựng). Đây chính là hạn chế về việc phát triển sản lượng trong những năm đầu tiên triển khai sản phẩm mới ra thị trường, điều này ảnh hưởng tới việc giảm giá thành sản phẩm (do chưa khai thác hết công suất máy móc thiết bị hiện nay mới chỉ sử dụng 50%) và việc đầu tưư để nâng cao chất lưượng sản phẩm gặp nhiều khó khăn.

- Việc sử dụng tấm bê tông nhẹ để lắp dựng nhà ở, đây là dòng công nghệ vật liệu mới để thi công nhà ở lần đầu tiên được triển khai trong nước chưa có trong hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng xây dựng Việt Nam nên trong quá trình triển khai vào thực tế gặp nhiều khó khăn, hạn chế về thủ tục pháp lý đặc biệt là các dự án, chương trình nhà ở sử dụng vốn ngân sách.

Từ những khó khăn trên; Xí nghiệp NHATICO xin kiến nghị đến các cơ quan quản lý nhà nước như sau:

1. Hỗ trợ kinh phí triển khai các dự án mô hình mẫu diển hình về nhà ở cho người thu nhập thấp, tái định cư, cụm tuyến chống lũ... của nhà nước để ứng dụng loại vật liệu mới này với quy mô khoảng 3 tỉ đồng đến 5 tỷ đồng.

2. Chỉ định thầu hoặc giơí thiệu các đơn vị có nhu cầu của các tỉnh thành trong nưưc về: Dự án nhà ở cho người thu nhập thấp, Nhà ở tái định cư, Nhà tạm cư... cho Xí nghiệp để triển khai mô hình nhà ở sử dụng loại công nghệ vật liệu mới này.

3. Kiến nghị:

- Bộ Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam... hỗ trợ giúp xí nghiệp giới thiệu công nghệ sản xuất vật liệu mới này đến các địa phương, đơn vị trong cả nước để xí nghiệp có điều kiện chuyển giao và phổ biến công nghệ sản xuất loại vật liệu mới này ra phạm vi toàn quốc.

- Bộ Xây dựng hỗ trợ giúp đỡ trong việc xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng cho dòng công nghệ mới này.

Nguồn: www.Vifotec.com.vn

TẤM XÂY DỰNG 3D

Nguồn: www.vietducsteel.com


Tấm có kết cấu ba chiều, hình thành bởi các lưới thép đan vào nhau và kẹp vào giữa là tấm “mốp” (EPS). Sườn tấm 3D được chế tạo từ thép kéo nguội, đường kính từ 2 - 3,8mm; mật độ ô lưới là 52 x 50mm (xem ảnh minh họa). Toàn bộ thép được mạ kẽm để tránh gỉ sét. Khi gắn vào công trình sẽ tô vữa xi măng lên các mặt tấm 3D này.

Tấm 3D có thể dùng làm tường, sàn, cầu thang, mái, ô văng…và có 4 loại với độ dày khác nhau để lựa cho thích hợp. Bề rộng tấm 1,2m; chiều dài tùy chọn từ 2,5 - 6m. Tùy mục đích sử dụng mà có thể tô trát các mặt ngoài hay kết cấu nối bằng vữa xi măng - cát mác 75 - 100, bê tông - đá 1 x 2 mác 200 - 300 hoặc bê tông đá mi mác 150 - 200…




Một m2 tường bằng tấm 3D dày 10cm hoàn thiện nặng 85 - 90kg (tường gạch truyền thống 160 - 190kg), sàn dày 10cm nặng 150kg (sàn bê tông truyền thống nặng 230kg). Như vậy công trình bằng tấm 3D chỉ nặng bằng khoảng 60% so với công trình tương tự xây bằng vật liệu truyền thống. Do đó tấm 3D thích hợp khi thi công trên nền đất yếu, cải tạo nhà cũ với chi phí gia cố móng tối thiểu, thuận tiện thi công ở vùng sâu, xa, trong hẻm hoặc đưa lên cao. Về chi phí, có thể giảm 10 - 20% chi phí thi công phần thô vì rút ngắn 30% thời gian thi công, tiết kiệm chi phí nhân công, cốp-pha, cây chống.

Các đặc tính kỹ thuật vượt trội
STT CHỈ TIÊU CƠ LÝ TRỊ SỐ ĐVT GHI CHÚ
1 Trọng lượng bản thân <90
<120
kg/m2 Vách VD5 đã hoàn thiện 2 mặt
Sàn VD10 đã hoàn thiện 2 mặt

2 Chịu động đất >7.5 o Richter Nhờ hai mặt có lớp thép cương độ cao
3 Chịu gió bão >300 km/h Thực tế ở Homestead, Florida, Hoa Kỳ
4 Giá trị truyền nhiệt > 0.65 Kcal/h Tấm VD5 trát vữa 2 mặt dày 2.5cm
5 Chỉ số giảm âm >40 dB.500kHz Tấm VD5 trát vữa 2 mặt dày 2.5cm
6 Cực hạn chịu lửa ở nhiệt độ t=1000 oC >1
>2
giờ Tấm VD5 trát vữa 2 mặt dày 2.5cm
Tấm VD5 trát vữa 2 mặt dày 4.0cm

7 Chống kiến, mối mọt >50 năm Tấp mốp không bị kiến, mối mọt
8 Chống nứt Hệ thống ô lưới thép cường độ cao, phân bố đều
9 Không thấm


Khả năng cách âm: Rw= 42 - 55 dB

henycuong
08-01-2008, 05:03 PM
Tham khảo bê tông siêu nhẹ HEBEL của Đức

Cám ơn quý báo về bài Bê tông siêu nhẹ cho nhà cao tầng vào ngày 11/3/2005. Mới thoạt nghe về sản phẩm này thì tôi rất thích vì nó thiết thực đến ngành xây dựng ở VN, nhưng đến khi nhìn kỹ lại thì nó không khác gì sản phẩm HEBEL của Đức đã xuất hiện từ hơn 45 năm trước đây.

Người gửi: Lê Minh (Sydney, Australia)
Gửi tới: Ban Khoa học
Tiêu đề: Bê Tông siêu nhẹ cho nhà cao tầng

Đây cũng là một sản phẩm bê tông bọt được làm từ hỗn hợp cát mịn, vôi và xi măng, cộng thêm phụ gia tạo bọt (gas forming agent), chất nhão nhôm (Aluminium Paste), và được nung trong lò nồi hấp cao áp. Sau khi những hỗn hợp này được trộn với nước thì nó được cho vào khuôn đúc, và sau vài giờ thì được đem ra cắt bằng dây thép theo thước tấc yêu cầu. Sau đó sản phẩm lại được đem trở vào lò nung thêm 12 tiếng mới hoàn tất công đoạn.

Những tấm bê tông không có thép thì không chịu lực, nhưng nếu có cốt thép (reinforced) thì vẫn chịu được lực (structural). Sản phẩm đã có mặt ở Nhật từ 1967, và có mặt ở Australia từ 1989. Tòa soạn và quý độc giả có thể tìm thấy những thông tin liên quan đến sản phẩm này trên website của CSR Hebel Australia: http://www.hebelaustralia.com.au/Default.asp?cookie%5Ftest=1

Rất mong được quý tòa soạn hoặc các độc giả quan tâm chia sẻ thêm về sản phẩm này.

Chân thành cám ơn

Lê Minh

henycuong
08-01-2008, 05:06 PM
Nguyễn Văn Chánh
Chức vụ: Chủ nhiệm Vật liệu xây dựng
Học vị: ThS. (ĐHBK TP.HCM), TS. (ĐHXD Hà Nội), GVC,


Quá trình đào tạo:

Cấp độ Năm tốt nghiệp Trường tốt nghiệp Chuyên ngành tốt nghiệp
Đại học 1976 ĐHBK Tp HCM Công chánh
Cao học 1998 ĐHBK Tp HCM VLXD
Tiến sĩ 2002 ĐHXD HN Công nghệ VLXD

Chuyên ngành nghiên cứu.

- Chuyên ngành nghiên cứu: Vật liệu xây dựng, công nghệ xi măng và bê tông
- Chuyên ngành giảng dạy đại học: vật liệu xây dựng, công nghệ xi măng và bê tông
- Chuyên ngành giảng dạy sau đại học: vật liệu xây dựng, công nghệ xi măng và bê tông



Các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học đã công bố:

Các bài báo đã được in trên các tạp chí chuyên ngành trong nước

1. Nguyễn Văn Chánh, Công nghệ sản xuất các tấm Panel nhẹ dùng xây dựng nhà ở cho vùng ĐBSCL, Người xây dựng, tháng 8-2004.
2. Nguyễn Văn Chánh, Bảo vệ bề mặt bê tông bằng polyme lưới sợi tăng độ bền cho BTCT trong môi trường xâm thực mạnh. Tuyển tập báo cáo khoa học về sự cố và hư hỏng công trình xây dựng, Hà Nội, 12-2003, p69-73.
3. Nguyễn Văn Chánh, Nghiên cứu cơ chế phá hủy cấu trúc bê tông trong môi trường muối sulphat,Tuyển tập báo cáo khoa học về sự cố và hư hỏng công trình xây dựng, Hà Nội, 12-2003, pp74-80.
4. Nguyễn Văn Chánh, Bê tông gia cường cốt sợi bazan phân tán,
5. Nguyễn Văn Chánh, Bê tông bơm phụt, 2003
6. Nguyễn Văn Chánh, Bê tông nhẹ cốt liệu thủy tinh rỗng
7. Nguyễn Văn Chánh, Đặc điểm biến dạng của đá xi măng ngậm khí khi trám các giếng khoan dầu khí, Tạp chí khoa học kỹ thuật mỏ địa chất, số 1,tháng 1-2003, pp6-11.
8. Nguyễn Văn Chánh, Một giải pháp vật liệu xây dựng nhà ở vùng đồng bằng sông cửu long-bê tông nhẹ, Hội nghị những vấn đề KT-KT-XH-MT ĐBSCL để chủ động sống chung với lũ. Tháng 1-2001, pp255-261.
9. Nguyễn Văn Chánh, Bê tông tự lèn, Tạp chí phát triển khoa học công nghệ ĐHQG Tp HCM, tháng 5,6-2000, pp72-79.
10. Nguyễn Văn Chánh, Nghiên cứu chế tạo phụ gia họat tính tro trấu và các tính chất của tro trấu, tạp chí phát triển khoa học công nghệ ĐHQG Tp HCM, tháng 5,6-2000, pp63-71.

Các bài báo đã được in trên các tạp chí chuyên ngành nước ngoài

1. Nguyễn Văn Chánh, Recent application of coconut fiber reinforcement lightweight cement composites, The first international conference of Asia concrete federation (ACF), Thailand, october-2004, http://www.acfcconf.com.

2. Nguyễn Văn Chánh, Corrosion of reinforced concrete structures in Mekong Delta-Vietnam, The first international conference of Asia concrete federation (ACF), Thailand, october-2004, http://www.acfcconf.com

3. Nguyễn Văn Chánh, The long term stability of basalte microfiber in cement composites, The first international conference of Asia concrete federation (ACF), Thailand, october-2004, http://www.acfcconf.com

4. Nguyễn Văn Chánh, Improvement of design capability and quality construction management for construction in Vietnam. A foundation of sustainable urban development in Vietnam, Asian approach toward sustainable urban regenation. International workshop sept. 2004. Univ. of Tokyo, Japan. B5 http://csur.t.u-tokyo.ac.jp/ws2004/

5. Nguyễn Văn Chánh, Development of low income housing the urban in Vietnam, Asian approach toward sustainable urban regenation. International workshop sept. 2004. Univ. of Tokyo, Japan. B7: http://csur.t.u-tokyo.ac.jp/ws2004/

6. Nguyễn Văn Chánh, Development of low cost housing from lightweight panel of foam concrete in Mekong Delta Region Viet Nam, Proceeding of International symposium on Advanced science and Engineering, May-2004, Pukyong National Univ. and HCMUT, pp398-402.

7. Nguyễn Văn Chánh, Developing technology of hollow prestressed concrete piles in Vietnam, Proceeding of International symposium on Advanced science and Engineering, May-2004, Pukyong National Univ. and HCMUT, pp391-397.

8. Nguyễn Văn Chánh, Superplasticizer and Mineral admixture in concrete, Proceeding of International symposium on Advanced science and Engineering, May-2004, Pukyong National Univ. and HCMUT, pp425-428.

9. Nguyễn Văn Chánh, Basalte fiber reinforced high strength concrete, Proceeding of International conference: Our world in concrete and Structures, Aug. 2003. Singapore. pp241-246

10. Nguyễn Văn Chánh, Fabrication light weight concrete using hollow glass aggerate, Proceeding of International conference: Our world in concrete and Structures, Aug. 2003. Singapore. pp247-251.



Địa chỉ liên lạc.

Cơ quan Bộ môn Vật liệu xây dựng, Khoa Kỹ thuật xây dựng
268-Lý thường Kiệt Q10, TPHCM
Điện thoại: 8647684
Email: nvchanh@hcmut.edu.vn


:p :p :p :p :p

raklei
08-01-2008, 10:53 PM
Hiện nay theo mình biết thì TCVN chưa có phân loại bê tông nặng nhẹ đâu, nhưng theo cách chung của thế giới thì bê tông có tỷ trọng dưới 1800kg/m3 thì gọi là bê tông nhẹ. Bê tông thường từ 1800-2500kg/m3 và trên 2500kg/m3 được gọi là bê tông nặng.